Phật tâm hồng nhan - Hồi 03

Tác kiển tự phược


Đêm khuya, Tương Vong còn nghĩ mãi những lời của Mộ Dung Chân Nhất mà cả người ngẩn ngơ, cuối cùng không thể tự chủ, khẽ khàng đi đến bên ngoài cửa phòng sư phụ, liếc xem ông đã ngủ hay chưa. Nếu chưa, y sẽ vào thăm hỏi một lúc.
Tĩnh Trừng đang ngồi lặng lẽ trên giường. Tiếng chim kêu bên ngoài khiến lòng ông khó trấn an. Ông than thầm:
“Hoa hương điểu ngữ, cẩm tú xuân quang, giờ đây chỉ là những thứ sinh rồi lại diệt. Ôi, đồ nhi ngốc nghếch, lẽ nào ngươi thực sự không nghĩ thấu chăng?”
Đã chín năm.
Chín năm trước, Tĩnh Trừng vẫn là một trong Thập Bát La Hán Thiếu Lâm, lưng đeo đao, một đôi thiết quyền giấu trong tay áo. Ông từng khiến kẻ trong hắc đạo giang hồ, ai nấy đều kính sợ, bỏ chạy không kịp. Danh hiệu Đao Phong La Hán chẳng phải hư danh. Trận chiến ở đại mạc tái bắc đó, đến nay vẫn như hiện trước mắt:
Đêm hôm đó, gió gào như quỷ khóc, mây đen u ám cả trời, một trăm hai mươi sáu tên mã tặc đều chết ngay trên lưng ngựa, suối máu bắn lên cao. Hàn quang từ đao của Tĩnh Trừng chưa tan, gã cầm đầu mã tặc đã biến thành một thi thể. Tuấn mã cõng trên lưng chủ nhân đã chết, chạy không mục đích, xông vào chỗ tối thăm thẳm.
Tĩnh Trừng vén áo xuống ngựa, đạp trên bãi cát vàng thấm đẫm máu tươi. Những đôi mắt vô thần đó vẫn trơ ra nhìn vào ông. Sinh mạng một khi khô héo, mã tặc vô ác bất tác cũng không còn là hạng chẳng thể tha thứ, dù sao người đã chết, mọi sự xem như không. Nhìn những cặp mắt ấy, Tĩnh Trừng dường như ngửi thấy mùi máu tanh trên tay mình. Luồng gió xoay vần trên đỉnh đầu, mang theo những tiếng kêu thảm thiết trong Địa ngục vừa rồi trở lại. Người gọi La Hán, La Hán hướng Phật, Tĩnh Trừng chợt cảm giác thời khắc ấy bản thân mình chính là Tu La! Lẽ nào đây là kết quả thiền tu hai mươi năm? Một thân võ công tế thế, rốt cục lại cứu đời đến nỗi máu tươi đầm đìa, chẳng lẽ đây mới là chính pháp?
Tĩnh Trừng nhìn cái bóng phía xa một cách nghi hoặc. Thư sinh thiếu niên giơ cao thanh kiếm nằm trong vỏ. Mảnh lụa xanh trên vỏ kiếm lất phất trong gió. Đó chính là người cùng ông liên thủ đẩy lui kẻ kịch. Như vậy tại sao thiếu niên giơ kiếm lên? Thân ảnh y đứng trong gió vẫn là cô độc như thế. Tĩnh Trừng bất chợt hiểu rõ. Bản thân mình chưa từng chính thức quen biết thiếu niên. Dù là tương mệnh chi giao, ai cũng không biết tâm sự của người kia. Chúng ta vì đâu mà chiến đấu? Lại vì điều gì mà sống? Đó là lần đầu tiên Tĩnh Trừng có nghi hoặc này.
Trong khoảnh khắc, ông nghe thấy tiếng hô hấp nho nhỏ. Đao của ông lóe lên, bổ một thi thể dưới đất thành hai đoạn. Thi thể nọ vốn đè lên một hài tử đang trợn to cặp mắt trong sáng nhìn ông. Vẫn còn một tên chưa trừ! Tĩnh Trừng kinh hãi, không ngờ mình bất cẩn vậy. Với kinh nghiệm giang hồ nhiều năm, Tĩnh Trừng cũng hiểu đạo lý trừ ác vụ tận [2]. Nhưng lúc này ông không rút đao, chẳng ngờ nó chỉ là một đứa trẻ. Đứa trẻ kinh hoảng bật dậy, ngây như khúc gỗ nhìn Tĩnh Trừng. Vẻ ngây thơ trong đôi mắt to tròn nọ làm ánh mắt sắc bén của Tĩnh Trừng dịu dần.
Cuối cùng Tĩnh Trừng bồng đứa trẻ lên. Thanh y thư sinh hơi kinh ngạc. Lần đầu tiên y thấy trên mặt Đao Phong La Hán xuất hiện nụ cười. Lúc này y mới tin, khi không mang đao, ông thực cũng là một vị La Hán.
Tĩnh Trừng điềm tĩnh nói:
“Ác bá Liên Viên Thất Ổ Tiêu Kỳ cậy nhờ thí chủ điểm hóa, bần tăng e rằng không thể giúp sức”.
Thư sinh nhướng mày hỏi:
“Hòa thượng, vừa nói gì đấy, chẳng lẽ lão không đi sao? Ta chẳng biết điểm hóa là cái gì. Lòng ta không có Phật, kiếm ở tay, nào phải hạng người tốt gì, hòa thượng, lão chẳng phải lần đầu tiên nghe đến ta chứ?”
“Bần tăng làm sao không biết? Trận chiến đêm nay, sát nghiệt quá nặng, bần tăng tự thấy mình đã sai. Trừ ác vụ tận tuyệt không phải ngã Phật chính pháp. Đại trí tuệ, đại từ bi trên thế gian không phải ở trừ ác, mà nằm ở chỗ người người hướng thiện, trừ đi tâm ma”.
“Người người hướng thiện? Trừ đi tâm ma?” - Thư sinh ngạc nhiên, bật cười một trận ha hả, rồi đột ngột lạnh lùng thốt - “Hòa thượng, không phải lão bị điên chứ?”
Tĩnh Trừng lắc đầu:
“Bần tăng chỉ là muốn thử xem. Trời vừa sáng, bần tăng sẽ dẫn đứa bé này về Thiếu Lâm. Nó chính là đệ tử của bần tăng. Bần tăng sẽ mang Phật pháp đã nghiên cứu cả đời truyền cho nó. Mười năm sau, khi võ công và Phật pháp đều thành tựu, người sẽ biết, cuối cùng là võ công cứu thiên hạ, hay Phật pháp cứu thiên hạ”.
Thư sinh cười lạnh:
“Lão chính là tự làm kén quấn mình!”
Tĩnh Trừng nói:
“Bần tăng nguyện ý gánh vác. Bần tăng trái lại muốn thử xem, có thể dạy ra một đệ tử vừa học võ vừa theo Phật, từ trong võ công lĩnh ngộ chân ý ngã Phật từ bi hay không. Đây là ước nguyện trong nửa đời còn lại của bần tăng”.
Thư sinh cười lạnh, giơ kiếm chỉ vào đứa trẻ, nói:
“Lão cũng là đang quấn kén cho nó!”
Tĩnh Trừng lấy làm kỳ quái hỏi:
“Vì sao nói vậy?”
Thư sinh đáp:
“Lão làm sao biết nó nguyện ý theo lão xuất gia làm hòa thượng? Lão làm sao có thể đem nguyện vọng của mình đặt lên người nó? Mỗi người đều có duyên, tùy vào mong muốn của nó, chọn theo lão xuất gia, hay để nó làm mã tặc, mười năm sau ta sẽ quay lại giết nó!”
“Vậy...” - Tĩnh Trừng kinh ngạc.
“Mỗi người đều có duyên, thế gian này có thể đều là bồ tát sao? Lão bắt buộc nó làm Phật, bằng như bắt nó làm quỷ, cũng chưa biết lão đã hiểu, hay là không hiểu đây?”
Thư sinh thở dài thu kiếm leo lên ngựa, lầm rầm thốt:
“Hòa thượng, Phật gia các người, không hiểu chuyện nhân gian, hãy cẩn thận, không nên có lòng tốt mà hóa ra hại người”.
Buông ngựa chạy được vài bước, thư sinh bỗng quay đầu, lớn tiếng nói:
“Hòa thượng, sau này gặp lại, nếu lão đến độ ta xuất gia, ta sẽ dùng một kiếm chặt đi cái đầu trọc của lão!”
Tâm ý Tĩnh Trừng cuối cùng vẫn không đổi. Trời vừa sáng, ông dẫn đứa trẻ về Trung Nguyên:
“Từ nay về sau, ngươi tên là Tương Vong, tất cả mọi sự thế gian, vẫn là nên quên đi...”
Nghe “phù” một tiếng, ngọn nến trước mặt Tĩnh Trừng bị dập tắt. Bốn bề tăm tối, Tĩnh Trừng không động đậy. Rất lâu sau, ông lục tìm đá lửa trong người thắp sáng cây nến, nói:
“Cố nhân từ xa tới! Mời vào, mời vào”.
Cùng với một trận cười, thanh y thư sinh tiến vào, thoáng cái đã ngồi đối diện Tĩnh Trừng. Mộ Dung Chân Nhất lại oang oang thốt:
“Hòa thượng, bốn năm không gặp, tiểu hòa thượng đã lớn rồi, lão cũng đã già”.
Tĩnh Trừng để lộ nụ cười hiếm gặp trên mặt, nói:
“Bần tăng già, thí chủ lẽ nào không già”.
Mộ Dung Chân Nhất cười ranh mãnh:
“Không nên gọi ta là thí chủ, ta không có cắc bạc nào bố thí lão đâu”.
Tĩnh Trừng im lặng một lúc mới thốt:
“Gặp Tương Vong rồi sao?”
Mộ Dung Chân Nhất cười như không phải cười, đáp:
“Gặp rồi, ta thực hổ thẹn với tiểu hòa thượng vì ban đầu đã để nó rơi vào tay lão, nên trước tiên phải đến gặp tiểu hòa thượng”.
Tĩnh Trừng bỗng nghiêm túc nói:
“Mộ Dung, chớ dùng những thứ ngoại đạo làm loạn tâm trí nó! Mấy ngày nay trong lòng Tương Vong có chướng ngại. Mười năm tâm huyết của ta, có thể giúp nó loại bỏ tâm ma hay không còn xem sau này nữa”.
Mộ Dung Chân Nhất cười khổ:
“Hòa thượng, nếu ta đáp ứng lão, e là làm hại tiểu hòa thượng rồi”.
Tĩnh Trừng hỏi:
“Tại sao nói vậy?”
Mộ Dung Chân Nhất đáp:
“Tương Vong từ đại mạc đến, bị lão giam trong miếu. Nó rốt cục muốn là hòa thượng hay không, lão chưa từng hỏi”.
Mộ Dung Chân Nhất lắc đầu:
“Tiểu hòa thượng đáng thương, ngay cả yêu ghét của bản thân còn không rõ, liền bị lão đẩy vào Phật môn. Nếu để nó tự do, ai biết nó sẽ vui sướng hơn hiện tại hay không chứ?”
Tĩnh Trừng than thở:
“Phật môn tịnh địa, vô khổ hữu lạc [3]”.
Mộ Dung Chân Nhất hừ nhẹ:
“Ngay cả thế giới bên ngoài hình dạng thế nào cũng không hay biết, làm sao biết Phật môn là chốn vô khổ hữu lạc? Đạo lý lệch lạc”.
Tĩnh Trừng nổi giận đôi chút. Mộ Dung Chân Nhất thở dài một hơi, ngoáy ngoáy lỗ tai, hướng ra cửa sổ hô lớn:
“Tiểu hòa thượng, ngươi không muốn đắc tội sư phụ, sẽ bỏ lỡ một cơ hội...”
Tĩnh Trừng nhướng mày hỏi:
“Đêm nay ngươi tới, chẳng lẽ...”
Mộ Dung Chân Nhất hừ một tiếng:
“Vốn tưởng lão ở Dương Châu, không cần ta tự thân động thủ, ai ngờ lão không giết hắn, còn khai đàn tụng kinh cho hắn”.
Tĩnh Trừng nói:
“Một lòng hướng Phật, luôn có lòng thiện, người Phật môn không được quên”.
“Nghe nói dâm tặc Lý Thu Viêm ở Lũng Tây mấy ngày gần đây hành xử nghênh ngang. Nếu ta là Lý Thu Viêm, mỗi lần gian dâm một nữ tử, lại mời đại sư khai đàn giảng Kim Cang kinh. Vậy chẳng phải tội nghiệt đều tiêu tan hết à?” - Mộ Dung Chân Nhất vừa cười vừa nói.
“Thêm nhiều lời khuyên hơn, cuối cùng sẽ có ngày hướng thiện” - Tĩnh Trừng thở dài.
Mộ Dung Chân Nhất lắc đầu:
“Vẫn là dùng kiếm nhanh hơn”.
Tĩnh Trừng nói:
“Bần tăng không ngăn được ngươi”.
Mộ Dung Chân Nhất cười lạnh:
“Ta chỉ hỏi lão có đồng ý đi cùng ta một chuyến không, binh tôm tướng cua của Cung gia không khỏi đông một chút”.
Tĩnh Trừng thấp giọng:
“Mộ Dung, ngươi lại mang đao đặt vào tay bần tăng à”.
Mộ Dung Chân Nhất khẽ nhướng mày, gỡ đao để trước mặt Tĩnh Trừng.
“Bạt đao”. - Tĩnh Trừng trầm giọng quát.
“Bạt đao?” - Mộ Dung Chân Nhất kinh hãi.
“Bạt đao”. - Tĩnh Trừng gật đầu.
Đao rời vỏ, đoản đao chỉ dài nửa thước. Dưới ánh trăng, đao tỏa ra quang mang xám tro. Chậm rãi thu đao về vỏ, Mộ Dung Chân Nhất không chút biểu tình:
“Gãy lúc nào vậy?”
Tĩnh Trừng điềm tĩnh đáp:
“Sáng sớm ngày thứ hai”.
Tiếng gió vi vu, Mộ Dung Chân Nhất đã biến mất bên ngoài cửa, mơ hồ lưu lại một tiếng thở dài, sau đó không còn dấu vết gì nữa.
Mộ Dung Chân Nhất vừa đi, một tiếng “ây da” vang lên ở cửa, Tương Vong lẳng lặng đi tới cạnh sư phụ, rủ tay đứng yên kính cẩn. Tĩnh Trừng trìu mến nhìn đệ tử duy nhất của mình, chậm rãi thốt:
“Vi sư đợi ngươi đã lâu rồi, ngồi đi”.
Tương Vong thận trọng ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Ngày thường y tuyệt không sợ Tĩnh Trừng. Nhưng đêm nay không như trước, bởi vì lúc chiều tối ở trước cửa Cung gia, Tương Vong biết rõ sư phụ đã nhìn thấy tất cả.
Trầm mặc rất lâu, Tĩnh Trừng không nói gì. Tương Vong cũng không dám lên tiếng. Ánh trăng soi tỏ khoảng không giữa hai người. Tương Vong bất an, cử động mũi chân.
“Tương Vong, vi sư hỏi ngươi, ngươi đi theo vi sư chín năm...đã từng hối hận chưa?”
Tĩnh Trừng cuối cùng lên tiếng rồi, thanh âm nhẹ tênh, cảm giác thật xa lạ. Tương Vong chưa bao giờ nghe qua ông nói những lời như vậy.
“Sư phụ có ân tái tạo, đệ tử chưa từng hối hận!” - Tiểu hòa thượng khẩn trương đáp.
“Thực chứ?”
Tương Vong ra sức gật đầu.
Trong lòng Tĩnh Trừng cảm giác ấm áp, bàn tay nhẹ nhàng đặt lên cái đầu láng của Tương Vong, mỉm cười gật đầu:
“Vậy thì tốt, vậy thì tốt”.
Ông lại hỏi:
“Hồi xế chiều đã nhìn thấy Minh tiểu thư à?”
Tương Vong không dám nói gì cả, chỉ khẽ gật đầu. Tĩnh Trừng hỏi tiếp:
“Trong số rất nhiều nữ thí chủ ở đây, Minh tiểu thư có phải đẹp nhất không?”
Tương Vong vạn lần cũng không nghĩ sư phụ hỏi y như thế, nhất thời ngây ngốc. Tương Vong đương nhiên có đáp án, trong mắt y, Minh Nguyệt thế nào chẳng phải người đẹp nhất chứ? Nhưng đáp án này không thể nói với sư phụ được. Tĩnh Trừng an ủi y:
“Cứ nói đừng ngại”.
Đợi một lúc lâu, Tương Vong cuối cùng khe khẽ “ừ” một tiếng. Tĩnh Trừng thở dài:
“Minh tiểu thư cố nhiên đẹp nhất rồi, nhưng rốt cục thế gian này có phân biệt đẹp xấu chăng?”
Tương Vong nói nhỏ:
“Đệ tử ngu muội...”
Nếu chẳng có đẹp xấu, lẽ nào Minh Nguyệt và Chu đại nương ở trai sự phòng đều giống nhau sao? Tương Vong nghĩ vậy cũng cảm thấy không thoải mái. Tĩnh Trừng thản nhiên nói:
“Đời người ngắn ngủi, nhiều lắm không hơn trăm năm, xương cốt hồng nhan cho đến vẻ bề ngoài đẹp đẽ kia, chẳng phải đều chôn trong lòng đất sao? Vinh hoa mỹ mạo của hôm nay, ngày sau chỉ một mái đầu bạc trắng, Minh tiểu thư dù xinh đẹp, liệu giữ được bao nhiêu năm rực rỡ như hôm nay? Đào hoa tuy phồn hoa, trong một năm liệu có bao ngày hoa nở? Hồng trần đều là cảnh mộng dễ tan như bọt nước [4], trầm mê lúc này...”
Tĩnh Trừng trầm tư rất lâu, đột nhiên lớn tiếng:
“Chính là rơi vào ma đạo!”
Tương Vong kinh hãi, dập đầu xuống đất, mồ hôi túa ra từ mỗi một lỗ chân lông. Ma đạo! Tĩnh Trừng tiếp tục:
“Trầm mê vào tình ái nhất thời, chính là không cách nào một lòng cầu chân, đã vậy, ai có thể dẫn dắt ngươi nhìn thấy chính pháp thế gian? Không thể hiểu thấu đạo lý thịnh suy vô thường, nhân thế biến ảo, ngươi lấy cái gì phổ độ chúng sinh, hóa giải oán nghiệt? Ái dục chính là ma quỷ bám lấy thân mình, tự tạo tâm ma, trong ngoài liên kết phá hủy thiện đạo của ngươi! Bản thân đã oan nghiệt như thế, đối mặt với oan nghiệt của thiên hạ thế nào đây?”
Tĩnh Trừng vỗ một chưởng vào đỉnh đầu Tương Vong:
“Đi, tự tham tự ngộ, hãy đến gặp ta!”
Mồ hôi Tương Vong toát đẫm cả người, run rẩy lui ra ngoài thiền phòng, hai chân mềm oặt ngã khuỵu xuống ngay cửa phòng.
Mặt trời lặng về phía tây, vẻ ủ rũ của hoàng hôn bao phủ tòa cổ tự ngàn năm.
Tương Vong đang đả tọa, mặt đối mặt với “ngư lam quan âm” [5], trên môi quan âm thoáng điểm nụ cười. Minh Nguyệt đã bao lâu không đến quấy rầy y rồi? Một canh giờ chăng? Hai canh giờ? Y không còn nhớ rõ nữa. Y vẫn nhớ kỹ trong lòng lúc nào cũng cầu bồ tát làm cho nàng bỏ đi, trở về đi. Hiện tại thực sự lời cầu khẩn có tác dụng rồi, Minh Nguyệt thực đã quay về sao? Tương Vong chợt nghĩ tới một vấn đề càng quan trọng hơn: Nàng còn đến nữa chứ?
Tương Vong chầm chậm quay đầu lại. Ngay sau đó, y đứng ngẩn ra. Minh Nguyệt đang ngồi ngoài cửa thiền đường, dường như đang ngủ. Chẳng lẽ nàng đã ngồi ở đấy rất lâu rồi? Nàng đến lúc nào? Tương Vong nhìn nàng đến độ ngây dại. Gấu quần nàng dính đầy bụi phủ trên mặt đất, tựa vào trụ cửa loang lỗ, trong ráng chiều êm ả mà sâu lắng, giống như đang tựa vào ánh mặt trời.
Tương Vong như bị quỷ thần sui khiến bước đến cạnh nàng, ngồi xổm xuống ngắm nhìn nàng. Đây là lần đầu trong đời hòa thượng này, hoặc cũng là lần duy nhất nhìn thấy nữ nhi đang chìm trong mộng, nhìn thấy Minh Nguyệt trong mộng đang ngủ. Dưới nắng hoàng hôn, hàng mi khe khẽ phủ lên đôi mắt, trông nàng yên bình như một đứa trẻ vô ưu vô lự, lại cũng giống như một đứa trẻ đang rất mệt mỏi.
“Nàng mệt rồi sao?” - Tương Vong tự hỏi mình.
Đúng rồi, Minh Nguyệt chẳng phải đã rất mệt à, nhưng tại sao nàng không bỏ đi? Nàng chẳng phải có chuyện muốn nói với ta sao? Nàng có chuyện muốn nói với ta mà không thể nói với người khác sao? Nhưng ta không để ý đến nàng, không phải nàng đã chịu ủy khuất sao? Nghe nói các nữ thí chủ bị ủy khuất sẽ khóc, Minh Nguyệt sẽ khóc chứ?
Tương Vong có rất nhiều câu hỏi, nhưng đều không có đáp án. Bây giờ y chỉ biết bản thân đang rất sợ hãi, sợ Minh Nguyệt đột nhiên biến mất, thậm chí sợ cả khoảng khắc ban nãy, sợ khi y quay đầu lại chỉ trông thấy một khoảng hoàng hôn tịch mịch mà Minh Nguyệt không đứng ở đó.
Tương Vong thậm chí không dám hắng giọng, ngồi xổm nguyên tại chỗ mà nhìn Mình Nguyệt, nghĩ thầm:
“Hồng nhan tàn tạ rất đáng sợ à? Như vậy vĩnh hằng có gì quan trọng?”
Đột nhiên, hàng mi Minh Nguyệt chớp nhẹ, mí mắt hé mở, để lộ đôi mắt trong vắt. Dường như không nghĩ Tương Vong sẽ ở trước mặt, nàng thẹn đến hai bên tai ửng hồng. Nàng vốn nên nổi giận, giống một thiếu nữ mang thân phận thiên kim khuê nữ nhà quan. Nhưng Minh Nguyệt không giận. Nàng chỉ lẳng lặng nhìn vào mắt Tương Vong. Trong đôi mắt ấy nàng nhìn ra được vài thứ. Đó là thứ mà nàng chưa từng thấy qua, hơn nữa một khi đặt ánh mắt vào thì không rút lại được, thậm chí như nghe được tiếng tim đập.
Lúc nàng vừa đến, kỳ thực rất muốn phủi tay bỏ đi, tiểu hòa thượng này hôm nay chẳng thèm để ý nàng! Hòa thượng mãi không đứng dậy sao? Lẽ nào so với thiên kim của đô chỉ huy lại tôn quý hơn sao? Chẳng lẽ nàng trái lại phải chờ y, mặc cho y không buồn nhìn đến nàng? Rốt cục y với nàng có quan hệ gì chứ? Nhưng hết lần này đến lần khác thiên kim không thể nổi giận, mấy lần hạ quyết tâm vẫn không thể đi, bởi vì trong lòng rất loạn. Hôm qua gặp mặt đại thiếu gia Cung gia, cha mẹ rõ ràng có ý muốn gả nàng. Nhưng bản thân nàng không thích gã họ Cung mặt trắng như con gái ấy một chút nào. Tóm lại, từ đầu đến chân gã nàng đều không thích, chẳng có lấy nửa điểm sánh bằng Tương Vong. Huống hồ Minh đại tiểu thư cũng không muốn xuất giá, xuất giá rồi thì không được đến chùa gặp hòa thượng, không được gặp gã hòa thượng làm nàng nổi giận, không nhìn thấy y luyện quyền, cũng không thấy vẻ mặt ngây ngốc của y, càng không thể nhìn thấy y đỏ mặt...Bất luận hòa thượng bao lần làm nàng nổi giận, Minh Nguyệt không thể không thừa nhận bản thân vẫn muốn gặp được y, muốn nói chuyện với y. Nàng không muốn xuất giá.
Nàng dần dần cảm giác mệt mỏi, đành phải ngồi ở ngoài cửa nhìn bộ dạng lễ Phật của y từ phía sau. Minh Nguyệt chợt thấy mũi cay cay, oan ức trong lòng không nói ra được. Ai bảo tự mình muốn gặp y? Nhưng cuối cùng vì cái gì? Y thực sự có gì tốt? Hơn nữa, y là một gã hòa thượng!
Hai người giữ nguyên bộ dạng nhìn nhau, tựa hồ đã quên mất nhìn được bao lâu rồi. Hòa thượng cuối cùng đã đứng lên, trở về chỗ ngư lam quan âm quỳ xuống. Ngư lam quan âm ở trên cao, ánh mắt hiền từ nhìn bọn họ. Minh Nguyệt nhìn thấy vầng ánh sáng phủ lên mặt y, nhất thời ngơ ngác.
“Tương Vong!” - Bên ngoài có người gọi hòa thượng.
“Lại đây!”
Tương Vong ngạc nhiên, vội vàng chạy đi. Chỉ còn Minh Nguyệt đứng một mình trong thiện đường.
Minh Nguyệt dò xét bốn phía. Tầng lớp cột trụ sơn xanh trên đỉnh thiện đường rủ xuống, như vô số mũi kiếm sắc nhọn treo trên đỉnh đầu, tro bụi dày đặc bao trùm mỗi pho tượng Phật. Thập bát La Hán, kẻ khóc, người cười, thế nào cũng không giống biểu tình của người thường, thiên vương trừng to mắt giận dữ. Minh Nguyệt chớp mắt lại nhìn quanh. Vẻ tươi cười của Ngư lam quan âm đột nhiên trơ như tượng gỗ, không có nét từ bi, mà chẳng còn chút sinh khí nào!
Nóc nhà u ám dường như đang ép xuống! Minh Nguyệt rất sợ hãi. Nàng vội vã chạy ra ngoài, đứng trên bậc thang thở hổn hển, ngẩng nhìn mặt trời. Thì ra đã đến giờ về, không thể đợi Tương Vong, một mạch chạy mất tăm.
Tương Vong đi khỏi thiện đường rồi, liếc mắt trông vào một góc bậc thềm. Mộ Dung Chân Nhất tay cầm vò rượu, tay kia lau miệng, vẻ mặt lộ ra biểu hiện cười như không cười.
“Con bé rất đẹp,” - Mộ Dung Chân Nhất bĩu môi - “Tiểu hòa thượng có mắt thẩm mỹ hơn sư phụ ngươi. Thích nàng ta không?”
Tương Vong không đáp, sắc mặt tái xám.
“Vì ngươi là hòa thượng sao?”
Một Dung Chân Nhất lắc đầu, vỗ lên đáy vò rượu. Chung quanh tĩnh lặng, chỉ có tiếng y vỗ vào đáy vò và âm thanh trong vò vọng lại, giống như một khúc ca từ xa xưa.
Trời sẫm tối. Mộ Dung Chân Nhất từ từ đứng dậy, thì thào:
“Tiểu hòa thương, đêm nay ta muốn đến Thúy Hồng tiểu uyển, ta không đến để xem các ngươi trưng bộ dạng như con lừa ngốc...Ôi, ta đồng ý với sư phụ ngươi, nhưng ta say rồi, nên ta nói cho ngươi hay, ngươi đừng báo với sư phụ ngươi... Đời người mấy mươi năm, sống cũng nhanh, chết cũng nhanh,... Ôi, người có thể thích thực chẳng nhiều... Bỏ lỡ một người, lại ít đi một người...”
Nói xong, Một Dung Chân Nhất đột nhiên nhảy lên, thoải mái duỗi người trên nóc thiện đường, ngẩng đầu nhìn bầu trời đầy sao, thấp giọng xướng:
“Ôi, bỏ lỡ một người, lại ít đi một người...”
Bất ngờ y từ nóc nhà nhẹ nhàng bay lên, giống như loài mèo, đạp qua các mái nhà, biến mất vào đêm tối, chỉ còn lại vò rượu nọ treo nghiêng nghiêng trên mái hiên, làm thiện đường trang nghiêm trông hết sức buồn cười.

------------------

[1] Kiển là cái kén: tên chương là “làm kén tự giam mình”
[2] Tương tự câu “diệt cỏ tận gốc”: tiêu diệt cái ác phải diệt đến kẻ cuối cùng.
[3] Ý câu là: Trong chốn Phật môn, chỉ có vui vẻ, không có khổ sở.
[4] Nguyên văn là “mộng huyễn phao ảnh”
[5] Một pháp tướng khác của quan âm bồ tát, mang hình dạng một người phụ nữ tay xách giỏ cá.